guigamtamsu.com

Bài viết 11/2016

Chuyện về tổ sư nghề kim hoàn (Phần 1)

Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ, Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương được coi là Tổ sư nghề kim hoàn ở nước ta, Con đường gian nan của cặp Ông Tổ nghề kim hoán từ quê hương Thanh Hóa, đi học nghề, rồi vào triều lập cơ vệ ngành ngân tượng, sau đó được sắc phong là công thần khai sáng nghề kim hoàn ở nước ta.

+ Ông Tổ nghề kim hoàn của Việt Nam cũng chính là ông Tổ nghề kim hoàn của các nước trong khu vực: Campuchia, Lào. Thái Lan. Tất cả đều lấy ngày 7-2 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ Tổ. Con đường truyền nghề của các Tổ sư kim hoàn đã diễn ra thăng trầm như thế nào?

Hằng năm, cử đến mùng 7/2 âm lịch, những người làm nghề kim hoàn lại đốt nén nhang để tưởng nhớ đến ông Tổ của nghề. Thế nhưng, có một điều khá lý thú là sau khi những tiền bối trong nghề này sang Campuchia, Lào và Thái Lan lại phát hiện nơi đây cũng lấy ngày 7/2 âm lịch để cúng Ông Tổ nghiệp kim hoàn. Trong sử sách không để lại, nhưng khả năng rất lớn vào cuối thể kỷ 19, ba anh em họ Trần người Việt sang những nước này khai sinh ra nghề chạm trổ, điêu khắc trên vàng, bạc.

Ngược dòng, tìm về cội nguồn

Lịch sử Việt Nam, 300 năm trở lại đây mới có ghi chép về nguồn gốc Tổ sư nghề kim hoàn của nước Việt. Đó là đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ và đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương do vua Khải Định năm thứ chín sắc phong, sử sách còn lưu lại ở cố đô Huế: người cha là Cao Đình Độ, sinh năm 1744, quê ở làng Cẩm Tú (Thanh Hóa) làm nghề thợ đồng. Say mê nghề kim hoàn, ông đã giả làm người Trung Quốc để xin vào học nghề ở tiệm người Hoa. Thời gian miệt mài, lại thêm có chí nên ông đã thành nghề chạm trổ trên vàng, bạc. Sau đó ông truyền nghề cho con là Cao Đình Hương, sinh năm 1773. Vào đời vua Cảnh Thịnh - năm 1790, hai cha con ông được mời vào cung để lập Cơ vệ ngành nặn tượng và làm đồ trang sức trong cung vua. Trải qua các đời vua nhà Nguyễn, hai ông được trọng dụng và được sắc phong là công thần khai sáng nghề kim hoàn ở nước Việt. Sau khi Cao Đình Độ qua đời, Cao Đình Hương sợ nghề này sẽ mai một nên xin từ quan để ra ngoài tìm đệ tử truyền nghề cho hậu thế. Vào thời này, Thượng thư Bộ lại Trần Minh cùng vợ Huỳnh Thị Mgọc mời ông về dạy nghề cho 3 người con là: Trần Hòa, Trần Điện, Trần Điển và 3 người cháu là Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật. Khi Cao Đình Hương mất, theo lời căn dặn của thầy, 6 đệ tử bắt đầu cuộc hành trình truyền nghề ra khắp dân gian. Ba anh em họ Trần đi ngược ra Bắc Hà (Thăng Long) để mở lò, thu nhận đệ tử. Ba anh em họ Huỳnh vào Nam theo dòng người du cư lập nghiệp do vua Minh Mạng khởi xướng. Đến Phan Thiết một người đã qua đời, hai người còn lại dừng chân luôn tại đây để mở lò dạy nghề. Sau khi nghe tin anh em họ Huỳnh dừng chân tại Phan Thiết, anh em họ Trần lại tiếp tục cuộc hành trình vào Nam và dừng chân tại Chợ Lớn truyền nghề. Vì quá thương nhớ thầy và bạn đồng nghiệp qua đời, nên 3 anh em họ Trần quyên góp tiền để lập nên một đền thờ tại Chợ Lớn, lấy tên “Lệ Châu Hội Quán”, có nghĩa là thương nhớ mà lã chã lệ châu rơi (đền này ở cuối đường Trần Hưng Đạo - quận 5 - TP. HCM và được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử vào năm 1998).

Hải Đăng - Báo GĐ&XH số 11 (60) (từ ngày 16/3 đến 23/3)/2000